top of page

AI THÔI MIÊN AI?

“Em làm thế nào mà lừa được nó thế? Em làm cho cóc mở miệng được thì giỏi thật. Sao mà nó có thể móc hết ruột gan ra như thế với em? Em có biết là em biến nó thành vật tế thần không? Không ngờ em giỏi thật đấy!”
             Trên gác hai của một quán cà phê gần Nhà hát lớn. Một chiều đông. Những ngày sách LVYVS được bán rong khắp hang cùng ngõ hẻm Hà nội. Tôi im lặng, lắng nghe những lời lẽ bỗ bã chân tình của người bạn, một nghệ sĩ thành danh. Tôi không biết phải nói gì.
             Chữ “lừa” ở đây được dùng như nghĩa đen. Một nỗi chán chường xâm chiếm. Tôi lơ đãng nhìn xuyên cửa sổ xuống đông đúc nhân loại chầm chậm di chuyển bên dưới, rồi lại ngắm nhìn ánh nắng đông nhảy múa trên đỉnh ngọn cây ngang tầm mắt. Lừa ư? Tôi nhìn thẳng vào cặp mắt quá thông minh tự tin và nụ cười nửa miệng như thấu tim gan người khác của bạn mình, nói chậm gằn từng tiếng: “Đời em chưa lừa ai bao giờ”.
       Người bạn cười tiếp tục “dỗ dành”, câu hỏi như cũ, chỉ thay đổi một từ: “Nói thật đi, em làm thế nào mà thôi miên được nó thế?”. Lần này, tôi đành phải trả lời, khuyến mại thêm nụ cười không thể buồn hơn: “Sự thật thì, Lê Vân thôi miên em, làm em tin câu chuyện đời chị ấy, để em viết cuốn sách này!”. Người bạn, có vẻ như không thỏa mãn với câu trả lời của tôi, không tin tôi nói thật. Tôi được khen giỏi mà sao không chịu nhận! Làm sao để bạn tôi tin tôi đây? Tin sự thật rằng Lê Vân đã “thôi miên” tôi?
              Thế nào là niềm tin bình dị giữa những con người? Nó đâu rồi? Con người bây giờ không tin vào con người ngây thơ. Con người bây giờ không tin con người trong sáng. Con người bây giờ không tin con người tốt vô vị lợi. Con người bây giờ cố tỏ ra thông minh bằng cách nghi ngờ tất cả. Bằng cách đặt câu hỏi đưa người khác vào bẫy. Con người bây giờ đi quá xa sự thật đến nỗi không còn đủ tinh tế để nhận biết trân trọng sự thật. Cái sự thật thuần khiết và giản dị.
     Người bạn nghệ sĩ của tôi, đại diện cho tiếng nói của nhà quản lý và người trong nghề, từ hình thái “buôn dưa lê” đến đẳng cấp “sa lông văn nghệ”, nhất định muốn tin rằng, tôi đã có một “phép phù thủy” nào đó khiến Lê Vân “khai tông tốc”. Họ tò mò suy diễn dựa trên kinh nghiệm và niềm tin rất hạn chế của chính họ. “Nếu không phải vậy, chỉ còn lý do thứ hai”, người bạn giọng trầm xuống, vừa như thương cảm, vừa như thỏa mãn: “Con bé này chắc tâm thần rồi. Không tâm thần, không điên mà đang yên đang lành lại lột truồng quần áo tung tăng ngoài phố thế à! Sẽ có một số đứa nữa bắt chiếc nó. Nghĩ đến lúc cả bọn điên trần truồng ngoài phố mà kinh hãi”.
    Kinh hãi ư? Tôi đang kinh hãi đây. Những bộ não quản lý văn hóa chỉ có thể nghĩ được đến thế thôi ư? Lừa, thôi miên, phù thủy, tâm thần, và trần truồng, điên rồ... là tất cả những tính từ, động từ được dùng một cách hào phóng để lý giải cho việc viết sách của chúng tôi ư?
    Ai thôi miên ai? Cơ duyên nào đã trói buộc chúng tôi? Là linh cảm hay là số phận? Khiến chúng tôi gắn kết, trở nên một, trong cuốn sách viết bằng đại từ thứ nhất: Tôi.
                                ***
             Đã mấy tuần trôi qua từ khi chia tay Lê Vân trở lại Sài gòn, tôi vẫn ngần ngại không gọi điện cho chị. Tôi cần tách Lê Vân ra khỏi cuộc sống thường nhật, đánh thức con người nghệ sĩ đã ngủ quên trong chị suốt 10 năm. Tôi chưa biết nên gặp Lê Vân ở đâu cho tiện. Chắc chắn phải là một nơi yên tĩnh. Lãng mạn càng tốt. Chỉ có chị và tôi, hai người đàn bà tự do. Không chồng con quấy rầy. Không điện thoại réo rắt. Không bạn bè chèo kéo. Một khu Resort ven Sài gòn là lý tưởng nhất. Nếu Lê Vân ngại đi xa vì con nhỏ, tôi sẵn sàng bay ra Hà nội, đến bất cứ nơi nào chị muốn. Con trai tôi đã vào cấp ba. Chồng tôi ủng hộ vô điều kiện. Tôi có khả năng di chuyển hơn Lê Vân.
            Nghe tiếng tôi chào, Lê Vân vui vẻ reo lên: “Không thấy em gọi lại, chị tưởng em thôi cái ý định ấy rồi”. Tôi mừng hú: “Thôi làm sao được. Em đang tính xem chị em mình gặp nhau thế nào đây”. Lê Vân bỗng ngập ngừng đắn đo: “Nếu viết cuốn sách này, chị e rằng mình sẽ đi ngược lại với những gì mình đang sống, là không tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mới đây, chị đọc được bài tự bạch của một ông bạn nhà văn trên báo An Ninh Thế Giới. Đọc xong thấy buồn, thấy ông ấy trần trụi hết. Chả còn gì để khám phá nữa. Ngay cả cảm hứng thi thoảng đi cà phê với ông ấy cũng hết. Khi chị gọi điện nói với ông ấy những suy nghĩ thẳng thắn đó thì hình như ông ấy giận”.
     Thôi rồi! Vậy là chị ấy đã nghĩ lại. Đúng như mình phỏng đoán. Phải chấp nhận thôi. Đầu tôi nghĩ rất nhanh, nhưng miệng tôi chưa chịu... thua. Tôi khuyên chị suy nghĩ thêm, khi nào cảm thấy thật thoải mái, chúng tôi sẽ quay lại chuyện này.
      Không có gì vội cả. Tôi tiếp tục nói, hướng chị vào cảm giác an toàn tuyệt đối. Rằng chị không có gì để sợ. Làm xong cuốn sách, chị là người đọc cuối cùng, thích thì xuất bản, không thì thôi. Không có gì ràng buộc. Rằng chị không có gì để mất, ngoài thời gian ngồi kể cho tôi nghe chuyện đời chị. Rằng tôi không đặt bất kỳ một điều kiện gì. Tôi không đòi hỏi bất kỳ cái gì trong dự án này. Trong lúc Lê Vân chưa biết quyết định ra sao, tôi nói luôn: “Chị à, nếu chị không thay đổi, nếu chị quyết tâm làm cuốn sách đời mình, liệu chị có thể thu xếp đi đâu đó với em vài ngày không? Trong Nam có khá nhiều khu nghỉ mát yên tĩnh. Chị bay vào đây hoặc là em bay ra đó. Thế nào cũng được, tùy chị”.
      Bên kia đầu dây im lặng. Bên này đầu dây nín thở. Rồi giọng Lê Vân vang lên: “Thế này nhé, con chị còn nhỏ, nhỡ chúng nó cần có mẹ bất kỳ lúc nào chị cũng phải có mặt. Sợ vào Sài gòn thì xa quá. Theo chị, tốt nhất là em chịu khó bay ra Hà nội, hai chị em sẽ đi lên Tam Đảo, chị biết một khu nhà nghỉ rất yên tĩnh ở đó, tha hồ trò chuyện mà không bị ai quấy rầy”.
      Ôi! Tôi cố gắng kiềm chế để khỏi nhảy cẫng lên, hét váng nhà. Lê Vân đồng ý rồi! Chị ấy đã đồng ý! Lời tỏ tình đã được chấp nhận. Ngày tôi bay ra Hà nội được ấn định. “Sẽ không thay đổi gì nữa chị nhé. Em đi đặt vé đây!”. Tôi giao hẹn.
       Để chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn, chồng tôi mua cho tôi một chiếc máy ghi âm màu đỏ nhỏ xíu, xinh xắn như một thứ đồ chơi. Anh cẩn thận dạy tôi cách sử dụng, cách chuyển dữ liệu vào máy tính, cách nạp pin. Tôi thuộc loại đặc biệt dị ứng với tất cả những gì thuộc về kỹ thuật số. Cẩn thận hơn, anh ép tôi mang thêm cái máy ghi âm cũ, phòng trường hợp cần thiết.
          Ngày 10 tháng 12, tôi bay ra Hà nội.
Lâng lâng như thể đi đến chỗ hẹn hò... Xuống sân bay, tôi lập tức gọi cho Lê Vân. Chị bất ngờ tuyên bố thay đổi kế hoạch: “Mấy hôm trước có việc đi qua cầu Thăng Long, chị phát hiện ra một nơi rất yên tĩnh, nằm ngay trên đường đi sân bay Nội bài. Một khu câu cá thư giãn giải trí. Mùa này ít người đến câu. Chị em mình ra đó, ngồi trò chuyện trong những cái lều con con ngay trên mặt nước. Đi lên Tam Đảo cũng được nhưng lòng chị không yên được, chị lo cho bọn trẻ con ở nhà cần mẹ buổi tối”.
    Sao cơ? Chị đã hẹn đi với em rồi cơ mà! Tôi cố kìm nén sự thất vọng để không buông ra lời trách cứ. Để giọng nói của tôi trở nên dịu dàng nhất có thể: “Em muốn đi đâu đó vài ngày, tách chị khỏi cuộc sống thường nhật. Em không muốn chị bị phân tâm việc này việc kia. Nhưng thôi, dù sao thì em cũng đã bay ra đến đây rồi. Thế cũng được chị ạ”. Thực tình, tôi không có lựa chọn nào khác.
     Lê Vân hẹn tôi đến ăn sáng uống cà phê tại nhà chị. Tôi từ chối. Một phần lo ăn sáng cà phê lích kích mất thời gian. Quan trọng hơn, tôi không muốn có một chút trò chuyện nào với chị trước khi bật máy ghi âm.
     Sáng hôm sau, tôi đến nhà chị muộn nửa tiếng. Có lẽ vì mùa đông. Trời xám xịt như muốn mưa gió. Tôi không muốn ra khỏi chăn ấm. Có lẽ, vì tôi chưa xoá hết được cảm giác thất vọng vì kế hoạch thay đổi. Có lẽ... Tôi đang chờ đợi cuộc đi vài ngày, thậm chí một tuần. Tôi đang chờ đợi một không gian lãng mạn dưới ánh nến và âm nhạc hồi tưởng. Tôi đang chờ đợi khoảnh khắc chỉ có hai người đàn bà và những nỗi đau… Tất cả đảo lộn. Uể oải, trễ nải. Chán!
     Hồ câu thư giãn là một thứ tôi không thể hình dung, không có khái niệm. Tuy là người luôn đúng hẹn, lần này tôi tặc lưỡi: muộn nửa tiếng thì đã sao. Chẳng phải là cái lỗi to lắm so với cái lỗi chị làm tôi chán chường. Chẳng phải cái lỗi to lắm khiến chị cụt hứng đến mức thay đổi kế hoạch lần nữa! Mà có thay đổi cũng... kệ. Tự nhiên tôi muốn buông...
      Lê Vân đón tôi bằng ánh mắt nụ cười rạng rỡ. Trông chị như một người lính chuẩn bị xung trận với khăn quàng kín cổ, mũ bảo hiểm, kính đen, tay đeo găng da sẵn sàng. Chị đưa cho tôi một cái áo khoác dài đến chân màu tím nhạt, ân cần bảo: “Cái này nhẹ nhưng mà ấm lắm. Chị chuẩn bị cho em đề phòng em ở Sài gòn không mang đủ quần áo ấm”. Giọng nói ấm áp và nụ cười bình dị, chân tình cùng thái độ “sẵn sàng xông pha” vào gió rét của Lê Vân làm tôi phấn chấn hẳn lên. Không còn nghi ngờ gì nữa. Lê Vân đã sẵn sàng vào cuộc.
    Trên con xe Future màu xanh ngọc, Lê Vân chở tôi lượn lách, hòa vào dòng người đông đúc của phố Thụy Khuê. Không dám ôm eo chị, tôi ngật ngưỡng muốn ngã. “Chị để em lái xe cho”. Tôi nói với lên. Lê Vân cười, gạt phắt đi: “Em ở Sài gòn không quen đường Hà Nội, cứ yên tâm”. “Tay lái lụa” Lê Vân nhiều lúc làm tôi thót tim, kiểu người dưới đất lo cho kẻ trên cây. Một lần chị phanh gấp, tôi phải ôm choàng vào chị cho khỏi bị hất xuống đường. Hết ngượng. Cứ ngỡ, chúng tôi sẽ đến hồ câu bằng xe hơi. Sẽ có tài xế riêng. Không ngờ, Lê Vân cũng giống hệt như bao phụ nữ bình dân kín mít trên những chiếc xe máy rề rề phụt khói. Không lá ngọc cành vàng, lên xe xuống ngựa. Không có vẻ gì dính dáng đến hình ảnh một ngôi sao, ‘vang bóng một thời”. Lê Vân hòa lẫn vào đám đông bụi bặm của một Hà nội giản dị cần lao. Chiếc xe máy lao vun vút lên cầu Thăng long giá buốt. Sông Hồng mờ sương ngay dưới chân mà sao quá đỗi xa xôi hư hư thực thực. Tôi ngồi sau lưng, ôm eo người đẹp từng là mình tinh màn bạc số một của Điện Ảnh Việt mà cứ ngỡ trong mơ...
    Sau một tiếng đồng hồ chịu đựng cái lạnh gió sông Hồng, chúng tôi phóng thẳng xe vào một căn nhà lá tuyềnh toàng hơ hoác. Sau nhà là khu hồ câu khá rộng, những túp lều con con viền quanh bờ hồ. Quầy giao dịch sơ sài, buồn tẻ, lạnh lẽo. Một bộ bàn ghế cũ với bộ ấm chén cáu bẩn. Một phụ nữ trung tuổi quê mùa có mái tóc ngắn cắt vụng xuất hiện. Chị nở nụ cười lởi xởi cất lời chào. Lạ lùng làm sao, cái cười của người đàn bà trung niên quê mùa nhan sắc tầm thường này! Cái cười của chị tác động vào tôi mạnh đến nỗi, ngay lập tức, biến không khí buồn tẻ xám xịt thành bừng sáng ấm áp sôi động. Chị giới thiệu mình là chị vợ của ông chủ hồ câu, thỉnh thoảng đến trông nom giúp vợ chồng em gái.
     Vẫn ngồi trên xe máy, tôi hỏi hồ câu có mở cửa không mà sao vắng vẻ thế. “Có chứ, phải gần trưa khách mới đến”. Khi chúng tôi bỏ kính và mũ bảo hiểm ra, chị quản lý há hốc miệng, thốt lên: “Hoá ra là hai khách nữ, mà sao câu cá sớm thế”. Chằm chằm nhìn Lê Vân không cần dấu diếm, chị hỏi: “Chắc cô đến đây nhiều lần rồi nhỉ, nom cô quen lắm”. Lê Vân cười: “Không, em đến đây lần đầu tiên đấy, nom quen lắm à”. Chị quản lý khẳng định, “Nhất định tôi đã gặp cô rất nhiều lần rồi nhưng không thể nhớ là gặp ở đâu”.
   Thực đơn của chúng tôi là rượu nếp quê, lạc rang và một ấm trà ủ nóng, một phích nước nóng, và cháo cá cho bữa trưa. Chúng tôi vớ lấy hai cái cần câu, sóng bước theo lối nhỏ lát gạch dẫn vào những chiếc lều. Lê Vân chọn cái lều góc xa nhất, nơi các lều khác không cần phải đi qua, để đến lều của họ.
      Lều câu nhỉnh hơn lều chăn vịt chút xíu, có cửa đi vào. Bên trong có một khung cửa sổ khá to nhìn vào hồ, đủ rộng cho hai người ngồi thả câu. Vào trong rồi mới thấy chiếc lều vịt này thật kín đáo. Trong khi tôi thử ghi giọng mình để chắc chắn máy ghi âm vẫn hoạt động tốt, Lê Vân dùng giấy ăn lau chùi sạch sẽ bộ ấm chén cáu bẩn. Một sự im lặng quánh đặc nghẹt thở trùm lên hai chúng tôi. Tôi không thể cất lời. Như người cấm khẩu. Tôi tự nhủ: chưa phải lúc, chưa phải lúc. Tất cả những lời chị Vân nói ra sẽ là tư liệu. Chị muốn mở cánh cửa ký ức lúc nào, là tùy chị.
      Thực ra. Tôi muốn hỏi nhiều lắm. Nhưng tôi là ai mà có quyền xía vào đời tư của chị. Tôi là ai mà có quyền cất lời hỏi những câu hỏi tò mò kỳ cục. Tôi là ai? Một người xa lạ. Không, tôi chả có quyền gì để hỏi cả. Miệng tôi đã bị khóa lại rồi. Tôi gần như nín thở. Khoảnh khắc này, thở cũng là một hành động lố bịch, vô duyên.
     Ba phút trôi qua. Dường như, không biết bắt đầu từ đâu, Lê Vân bèn rót rượu vào hai cái li thủy tinh nhỏ xíu, bảo tôi: “Nào, chị em mình nâng li cho ấm bụng nhỉ! Cho thêm can đảm”. Tôi cạn li, bấm máy ghi âm. Lại vài phút lặng lẽ trôi đi. Tôi vẫn chẳng biết phải nói gì. Lê Vân điềm tĩnh chọn một thế ngồi thoải mái, tựa lưng vào khung cửa bằng tre, chân duỗi dài trên chiếu, nhìn mông lung ra mặt nước qua cặp kính đen. Mặt nước êm đềm phủ một lớp nắng nhạt. Nắng mùa đông.
      Và chị cất giọng, nhẹ như hơi thở: “Có lẽ, mình bắt đầu từ tuổi thơ nhỉ. Bố mẹ sinh chị ra khi họ còn rất trẻ, họ chưa kịp thành người lớn…
      Thỉnh thoảng, đang kể chuyện, Lê Vân chêm vào một câu, em là người đầu tiên chị nói đấy. Chẳng ai biết những ý nghĩ thầm kín này của chị đâu...
      Dòng hồi ức chị tuôn chảy lúc bùng lên như nham thạch, như núi lửa. Lúc róc rách như suối nhỏ thì thầm. Đôi khi tôi ngắt lời chị, sao tuổi thơ chị cay đắng cô độc giống tôi thế! Sao những mâu thuẫn gia đình, khao khát tình ruột thịt của chị lại cũng giống tôi nữa. Có lúc tôi cướp lời chị. Thao thao bất tuyệt theo dòng hồi tưởng của chính mình. Tôi trở thành người tự thú. Chúng tôi tâm tình. Trút lòng mình không chút e dè. Cái nút buộc ký ức bị đứt, những thứ chứa đựng bên trong bật ra không ai kiểm soát…
      Nói về tuổi thơ khát khao được yêu thương, Lê Vân mỉm cười cay đắng: “Không hiểu sao lại thế…”. Không hiểu sao bố mẹ lại xưng mày tao với con. Tôi bảo nhà tôi cũng vậy. Lê Vân kể phải đánh răng bằng xà phòng. Tôi khoe mình đánh răng bằng muối. Nếu chị Vân xấu hổ vì phải áp tải xích lô hộp mứt Tết làm thêm kiếm tiền, thì tôi ngượng chín người vì hàng ngày phải đi thồ nước gạo về nuôi lợn. (Nuôi lợn bán cho tư thương là phạm tội). Chúng tôi sinh ra và lớn lên từ hai nền tảng gia đình rất khác nhau, tôi con nhà lao động dân nghèo thành thị, chị con nhà tư sản nòi nghệ sĩ, mà vui buồn lo lắng không khác nhau là bao. Càng chuyện càng say tưởng không dứt được.
       Bữa trưa, Lê Vân bỏ kính đen ra, múc cháo vào hai cái bát nhỏ. Tôi rùng mình, nổi da gà. Tránh nhìn vào hai con mắt đỏ mọng sưng của chị. Ước gì chị lại đeo kính lên.
      “Em có biết, ở đây người ta câu được một loại cá rất to không, nặng đến năm chục ký”. Lê Vân hỏi tôi lúc chị trở lại lều sau cuộc đi dạo một mình. Thật à, tôi kinh ngạc kêu lên. Chị Vân cười rũ trước mặt tôi ngố rừng. “Ừ, loại cá các ông thèm của lạ thích câu ấy. Chị vừa nói chuyện với cậu phục vụ, nó bảo sao người ta ác thế. Sáng nào nó cũng phải lội xuống hồ để vớt cá chết nổi lên trắng xóa góc hồ. Nhìn cá chết xót ruột lắm. Người ta câu cá, không mang về ăn, lại thả xuống nước. Con nào khỏe thì sống, con nào yếu thì chết. Đâu phải con nào cũng tự lành được vết thương. Có con nuốt cái móc câu vào tận ruột, người ta lấy lưỡi câu ra cùng với ruột cá, rồi lại vẫn ném chúng xuống nước. Làm sao chúng sống nổi. Một cậu bé ngày nào cũng vớt xác cá, thế mà vẫn có lòng thương xót bọn cá. Câu cá lên để ăn là lẽ tự nhiên, nhưng câu lên cho vui, rồi lại quăng xuống nước, mặc chúng chết dần chết mòn thối rữa thì đúng là ác chứ còn gì!”.
       Hôm sau, trời chuyển gió hun hút, muốn xô tung những lều cá mỏng manh. Không khí khô lạnh. Môi tôi nứt toác. Chúng tôi không ngồi ở lều tre mà chui vào nhà kính. Một cái nhà bát giác tọa lạc giữa hồ. Xuyên qua lớp kính trắng, tôi cố nhướng mắt nhìn xem có thấy xác cá nào nổi lên không. Tôi bị ám ảnh bởi “một góc hồ trắng hếu lềnh phềnh xác cá”.
       Không có thêm vị khách nào đến hồ câu. Những ngày giáp Tết, thiên hạ bận bán mua lễ lạt chăng? Lạnh lẽo thế này, có điên mới lên hồ câu hóng gió… Cút rượu uống dở lấy ra để làm vì. Khi câu chuyện đã vào mạch, chúng tôi quên bénh rượu. Mải nói chuyện, mải nghe nhau, hai chị em không động vào hạt lạc nào.. Khi cậu bé phục vụ bước vào, tôi mới hay bốn tiếng đồng hồ của buổi sáng đã trôi vèo. Bữa trưa là hai cái bánh mỳ kẹp chả. Bánh mỳ cứng đanh. Chắc họ mua từ sáng sớm. Tôi ái ngại nhìn Lê Vân gặm bánh mỳ khô, thầm cảm mến thái độ sống thích nghi của chị. Tôi thấy chị thật gần gũi dễ chịu. “Ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, người ta chuẩn bị được cho mình thế này là tốt rồi, em nhỉ”.
          Hai chị em rời hồ cá lúc thành phố đã lên đèn. Tôi bảo chị Vân: “ Tối quá rồi, lại lạnh lẽo thế này, chị về nhà với con đi cho chúng khỏi mong. Chị không cần chở em về nhà như hôm qua nữa. Để em kiếm taxi”.
      Xuân sang, chúng tôi còn trở lại hồ cá thêm vài ngày nữa. Chị quản lý hồ cá đón chúng tôi vẫn với nụ cười xởi lởi nhưng không còn rạng rỡ ấm áp như trước. Ông chủ hồ cá, em rể chị, tự dưng lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử. “Không thể tin được. Cậu ấy vẫn trẻ và khỏe lắm. Bạn đèo xe máy. Bỗng nhiên ngã vật ra sau. Chết!”.
       Cá chết. Ông chủ hồ cá chết. Hồ cá vẫn đón khách. Câu chuyện của chúng tôi vẫn tiếp tục. Cuộc sống, trong câu chuyện của Lê Vân, dù trải qua chiến tranh sơ tán chết chóc..., dù khó khăn đói kém thời bao cấp, vẫn tiếp tục những tiếng cười, những niềm vui nhỏ bé giản dị.
      Trở lại với câu hỏi của người bạn tôi, rằng có phải tôi thôi miên Lê Vân, khiến chị rút ruột gan kể hết chuyện đời mình. Có thể lúc này bạn tôi đã quên câu hỏi, nhưng tôi vẫn nhớ. Tôi nợ bạn câu trả lời. Ước gì bạn tôi đọc được những dòng này, như một cách tôi nhớ đến bạn. Tôi đã “lừa” Lê Vân thế đấy. Tôi đã “thôi miên” chị hay bị chị “thôi miên”. Hay chúng tôi “thôi miên” nhau. Đâu có gì quan trọng. Quan trọng là chúng tôi dành cho nhau, một thứ không tiền bạc nào mua được. Không cần thời gian thử thách. Không cần lý trí kiểm chứng. Đó là niềm tin. Thứ niềm tin ngây thơ, tinh khiết, hướng thiện. Của con người. Giữa con người.
    Một lần, trong lúc giải lao, Lê Vân nói với tôi: “Hạnh à, ở em có cái gì lạ lắm, nó khiến chị tin tưởng. Nó giúp chị có thể trút hết chuyện đời mình với em mà không e ngại gì”. Tôi cười: “Em cũng chẳng biết chị ạ. Có thế nào thì em nói thế. Em thẳng ruột ngựa vì em tuổi Ngọ. ‘Thật thà là cha quỷ quái’ đó chị. Chị may có em để trút ra. Em cũng cần một người như thế”.
(Trích SÁCH CẤM - ghi chép của BÙI MAI HẠNH. Warrnambool 2010)
PS: Một người chị vừa nói với tôi, rằng Lê Vân, có lẽ, là khách Coach đầu tiên của tôi. Khi đó, tôi chỉ cần kỹ năng lắng nghe. Không phán xét. Và đặt câu hỏi gợi cảm hứng nói. Như làm coaching. Để có một buổi coach, khách hàng phải có niềm tin tuyệt đối vào người Coach. Đó là tiêu chí đầu tiên. Tôi vui vì đã tìm ra một nghề nuôi sống mình nơi đất khách quê người. Nghề life Coaching.
    Hôm nay. Dưới góc nhìn của một life Coach, tôi thành thực cám ơn đạo diễn Đặng Nhật Minh, một nhân vật trong LVYVS, khi ông này trả lời báo chí, đại ý rằng ông chẳng quan tâm đến cuốn sách của chúng tôi, vì nó là sản phẩm của hai đứa rách việc dắt nhau ra tâm sự nơi bụi bờ...
      Tôi, trái lại, đã quan tâm đến những gì ông viết trong sách hồi ký bày bán trang trọng đẹp đẽ. Tôi rất mừng khi đọc được đoạn ông nói về Lê Vân. Và chấp nhận góc nhìn của ông về chị. Dẫu vậy, tôi đã lược đi khá nhiều những chi tiết “cực thực” Lê Vân kể. Phòng trừ khả năng kém chịu đựng lời nói thật, của ông. Được xã hội quá nuông chiều, ông, một “nghệ sĩ nhân dân”, không còn muốn nghe tiếng nói khốn cùng, tiếng chân thật của bụi bờ. Đó là lựa chọn của ông. Khi tự họa chân dung ông. Tôi chấp nhận và cám ơn.
(Healesville 15.9.2020)


PS: 1. ảnh Lê Vân trong hiệu sách của Fahasa tại Sài Gòn.

Comments


bottom of page