top of page

TRÒ CHUYỆN VỚI LÊ VÂN

Updated: Jul 17, 2024

Xuống sân bay, tôi lập tức gọi cho Lê Vân. Chị bất ngờ tuyên bố thay đổi kế hoạch: “Mấy hôm trước có việc đi qua cầu Thăng Long, chị phát hiện ra một nơi rất yên tĩnh, nằm ngay trên đường đi sân bay Nội Bài. Một khu câu cá thư giãn giải trí. Mùa này ít người đến câu. Chị em mình ra đó, ngồi trò chuyện trong những cái lều con con ngay trên mặt nước. Đi lên Tam Đảo cũng được nhưng lòng chị không yên được, chị lo cho bọn trẻ con ở nhà cần mẹ buổi tối”.
    Sao cơ? Chị đã hẹn đi với em rồi cơ mà! Tôi cố kìm nén sự thất vọng để không buông ra lời trách cứ. Để giọng nói của tôi trở nên dịu dàng nhất có thể: “Em muốn đi đâu đó vài ngày, tách chị khỏi cuộc sống thường nhật. Em không muốn chị bị phân tâm việc này việc kia. Nhưng thôi, dù sao thì em cũng đã bay ra đến đây rồi. Thế cũng được chị ạ”. Thực tình, tôi không có lựa chọn nào khác.
     Lê Vân hẹn tôi đến ăn sáng uống cà phê với chị rồi chính chị sẽ chở tôi đến đó. Tôi từ chối. Một phần lo ăn sáng cà phê lích kích mất thời gian. Quan trọng hơn, tôi không muốn có một chút trò chuyện nào với chị trước khi bật máy ghi âm.
     Sáng hôm sau, tôi đến muộn nửa tiếng. Có lẽ vì trời mùa đông. Nhìn ra ngoài trời xám xịt như muốn mưa gió, không muốn chui ra khỏi chăn ấm. Có lẽ vì không tính đúng thời gian cho đoạn đường phải đi. Có lẽ còn, vì tôi chưa xoá được cảm giác thất vọng về sự thay đổi kế hoạch của chị Vân. Tôi cho phép mình uể oải, trễ nải, buông trôi… Tôi đang chờ đợi một cuộc đi vài ngày, thậm chí là một tuần. Tôi đang chờ đợi một không gian lãng mạn dưới ánh nến và âm nhạc hồi tưởng. Tôi đang chờ đợi không gian của hai người đàn bà và những nỗi đau… Hồ câu cá thư giãn là một thứ tôi không hình dung được, không có trong tưởng tượng. Tuy là người luôn đúng hẹn, nhưng lần này tặc lưỡi: muộn nửa tiếng thì đã sao. Cũng chẳng phải là một cái lỗi to lắm so với cái tội chị làm tôi chán chường. Cũng chẳng phải là cái lỗi to lắm khiến chị Vân cụt hứng đến mức thay thay đổi kế hoạch lần nữa! Mà có thay đổi thì cũng... kệ. Tự nhiên muốn buông...
      Lê Vân đón tôi bằng ánh mắt nụ cười rạng rỡ. Trông chị như một người lính chuẩn bị xung trận với khăn quàng kín cổ, mũ bảo hiểm, kính đen, tay đeo găng da sẵn sàng. Chị đưa cho tôi một cái áo khoác dài đến chân màu tím nhạt, ân cần bảo: “Cái này nhẹ nhưng mà ấm lắm. Chị chuẩn bị cho em đề phòng em ở Sài gòn không mang đủ quần áo ấm”. Giọng nói ấm áp và nụ cười bình dị, chân tình cùng thái độ “sẵn sàng xông pha” vào gió rét của Lê Vân làm tôi phấn chấn hẳn lên. Bao nhiêu chán nản nghi ngại bay sạch. Không còn nghi ngờ gì nữa. Lê Vân đã sẵn sàng vào cuộc.
    Trên con xe Future màu xanh ngọc, Lê Vân chở tôi lượn lách hòa vào dòng người đông đúc trên phố Thụy Khuê. Không dám ôm eo chị, tôi ngật ngưỡng muốn ngã. “Chị để em lái xe cho”. Tôi nói với lên. Lê Vân cười, gạt phắt đi: “Em ở Sài gòn không quen đường Hà Nội, cứ yên tâm”. “Tay lái lụa” Lê Vân nhiều lúc làm tôi thót tim, kiểu người dưới đất lo cho kẻ trên cây. Một lần chị phanh gấp, tôi phải ôm choàng vào chị cho khỏi bị hất xuống đường, thành ôm eo tự nhiên, hết ngượng. Tôi cứ ngỡ, chúng tôi sẽ đến hồ câu bằng xe hơi. Sẽ có tài xế riêng. Không ngờ, Lê Vân giống hệt như một phụ nữ bình dân trên những chiếc xe máy nghiêng ngả phụt khói. Lê Vân không lá ngọc cành vàng, lên xe xuống ngựa như một ngôi sao, ‘vang bóng một thời”. Lê Vân hòa lẫn vào đám đông bụi bặm của một Hà nội giản dị cần lao. Chiếc xe máy lao vun vút lên cầu Thăng long, trong giá buốt. Sông Hồng mờ sương ngay dưới chân mà sao quá đỗi xa xôi hư hư thực thực. Tôi ngồi sau lưng, ôm eo người đẹp từng là ngôi sao màn bạc số một của Điện Ảnh Việt mà cứ tự hỏi đây là thực hay mơ?
Sau một tiếng đồng hồ chịu đựng cái lạnh gió sông Hồng, chúng tôi phóng thẳng xe vào căn nhà lá tuyềnh toàng trống hơ trống hoác. Phía sau nhà là khu hồ câu khá rộng với những túp lều con con viền quanh bờ hồ. Quầy giao dịch sơ sài, buồn tẻ, xám xịt. Một bộ bàn ghế cũ với bộ ấm chén cáu bẩn. Một phụ nữ trung tuổi quê mùa có mái tóc ngắn cắt vụng xuất hiện. Chị nở nụ cười lởi xởi cất lời chào. Lạ lùng làm sao, cái cười của người đàn bà trung niên quê mùa nhan sắc tầm thường này! Cái cười của chị tác động vào tôi mạnh đến nỗi, ngay lập tức, không khí buồn tẻ xám xịt lạnh lẽo bỗng nhiên bùng sáng ấm áp sôi động. Chị giới thiệu mình là chị vợ của ông chủ hồ câu, thỉnh thoảng ra trông nom giúp vợ chồng em gái.
     Vẫn ngồi trên xe máy, chúng tôi hỏi chị, hồ câu có mở cửa không mà sao vắng vẻ thế. Có chứ, phải gần trưa khách mới đến. Khi chúng tôi bỏ kính và mũ bảo hiểm ra, chị quản lý há hốc miệng ngạc nhiên thốt lên: “Hoá ra là hai khách nữ, mà sao câu cá sớm thế”. Chằm chằm nhìn Lê Vân không cần dấu diếm, chị hỏi: “Chắc cô đến đây nhiều lần rồi nhỉ, nom cô quen lắm”. Lê Vân cười: “Không, em đến đây lần đầu tiên đấy, nom quen lắm à”. Chị quản lý khẳng định, “Nhất định tôi đã gặp cô rất nhiều lần rồi nhưng không thể nhớ là gặp ở đâu”.
   Thực đơn của chúng tôi là rượu nếp quê, lạc rang và một ấm trà ủ nóng, một phích nước nóng. Bữa trưa sẽ là cháo cá. Chúng tôi vớ lấy hai cái cần câu, sóng bước theo lối nhỏ lát gạch dẫn vào những chiếc lều. Lê Vân chọn cái lều góc xa nhất, nơi các lều khác không cần phải đi qua, để đến lều của họ.
      Lều câu nhỉnh hơn lều chăn vịt chút xíu, có cửa đi vào. Bên trong có một khung cửa sổ khá to nhìn vào hồ, đủ rộng cho hai người ngồi thả câu. Vào trong rồi mới thấy bên trong chiếc lều vịt này thật kín đáo. Trong khi tôi thử ghi giọng của mình để chắc chắn một trăm phần trăm máy ghi âm hoạt động tốt, Lê Vân dùng giấy ăn lau chùi sạch sẽ bộ ấm chén cáu bẩn. Một sự im lặng quánh đặc đến nghẹt thở trùm lên hai chúng tôi. Tôi tự nhủ: chưa phải lúc, chưa phải lúc. Tất cả những lời chị nói ra sẽ là những tư liệu. Chị muốn mở cánh cửa ký ức lúc nào là tùy chị. Tôi không thể cất lời. Tôi như người bị cấm khẩu.
      Tôi muốn nói, muốn hỏi nhiều lắm. Nhưng tôi là ai mà có quyền xía vào đời tư của chị. Tôi là ai mà có quyền cất lời hỏi những câu hỏi tò mò kỳ cục. Tôi là ai? Một người xa lạ. Không, tôi chả có quyền gì để hỏi cả. Miệng tôi đã bị khóa lại rồi. Tôi gần như nín thở bởi. Khoảnh khắc này, thở cũng là một hành động lố bịch, vô duyên.
     Ba phút trôi qua. Dường như cũng không biết bắt đầu thế nào, Lê Vân bèn rót rượu vào hai cái li thủy tinh nhỏ xíu, bảo tôi: “Nào, chị em mình nâng li cho ấm bụng nhỉ! Cho thêm can đảm”. Tôi cạn li, bấm máy ghi âm. Lại vài phút lặng lẽ trôi đi. Tôi vẫn chẳng biết phải nói gì. Lê Vân điềm tĩnh chọn một thế ngồi thoải mái tựa vào ô cửa rộng bằng tre, chân duỗi dài trên chiếu, nhìn mông lung ra mặt nước qua cặp kính đen. Theo hướng nhìn của chị, mặt nước êm đềm phủ một lớp nắng nhạt. Nắng mùa đông. Và chị bắt đầu … Giọng chậm rãi, điềm tĩnh, tự nhiên … “Có lẽ mình bắt đầu từ tuổi thơ nhỉ. Bố mẹ sinh chị ra khi họ còn rất trẻ, họ chưa kịp thành người lớn…
Thỉnh thoảng tôi lại đế vào một câu cảm thán, ngạc nhiên. Đôi khi tôi còn ngắt lời chị để bày tỏ sự đồng cảm của mình, rằng, sao mà tuổi thơ cay đắng và cô độc của chị lại giống tôi thế! Sao mà những khao khát tình ruột thịt, những mâu thuẫn gia đình của chị lại cũng giống tôi nữa. Tôi thao thao bất tuyệt theo dòng hồi tưởng của mình không còn để cho chị nói. Và tôi trở thành người tự thú với chị lúc nào không biết. Chúng tôi tâm tình, trút lòng mình ra với nhau không chút e dè. Một cái nút huyệt đã bị đứt, và những thứ chứa đựng bên trong bật ra. Thỉnh thoảng, trong dòng hồi tưởng, Lê Vân lại đế vào một câu, em là người đầu tiên chị nói đấy. Chẳng ai biết những ý nghĩ thầm kín này của chị đâu.
Tôi ngạc nhiên về cách ứng xử với con cái của bố mẹ chị. Tôi vẫn hình dung ra trong nhà chị có ba nàng công chúa. Bố mẹ tôi cũng thế, nhưng chúng tôi là con cái nhà bình dân. Tôi không ngạc nhiên khi nghe chị bày tỏ nỗi khao khát được nghe những lời nói yêu thương nựng nịu của mẹ cha. Bởi tôi cũng thế. Nói về tuổi thơ với khát khao được yêu thương, đôi lúc chị cất giọng cười cay đắng, và chỉ có thể kết lại một câu: không hiểu sao lại thế… Khi chị kể chị phải đánh răng bằng xà phòng và cười chảy nước mắt ra thì tôi reo lên, em cũng vậy, thuốc đánh răng rởm làm cả nhà em có răng đen sì, anh trai em lẳng xuống ao, thế là phải đánh răng bằng… muối. Muối đỡ hơn xà phòng. Nếu chị phải áp tải xích lô hộp mứt Tết xuống đường thì tôi phải hàng ngày lịch kịch hai thùng nước gạo dạo phố lấy về nuôi lợn. Cái cảnh mẹ tôi khóc vì con lợn ốm làm tôi vô cùng tủi thân, sao tôi ốm mà mẹ không khóc, có vẻ như cái mạng tôi chẳng đáng bằng một nửa cái mạng con lợn. Con lợn còn bán ra tiền chứ bán tôi thì ai mua?
Cậu bé phục vụ mang cháo đến. Lúc này, Lê Vân mới từ tốn gỡ cọng kính đen xuống. Tôi rùng mình. Mắt chị đỏ hoe nhòe nước. Tôi bỗng nổi da gà, chẳng dám nhìn thẳng vào đôi mắt ấy. Giờ tôi lại ước gì chị đeo kính lên… Vâng, tôi không thể nhìn thẳng vào cặp mắt đẫm nước của Lê Vân. Lúc này đây, tôi chỉ cúi gằm mặt xúc từng thìa cháo cá nhạt nhẽo. Ăn để mà ăn chứ chẳng có một tí vị giác cụ thể nào. Tôi chưa thoát khỏi cơn choáng do câu chuyện của Lê Vân gây ra. Tôi vẫn nghĩ như mình đang trong một giấc mơ. Tôi đang ở hồ cá với Lê Vân - người đẹp một thủa bí hiểm và thậm chí kênh kiệu không dễ gần ư?
Xong bữa trưa, Lê Vân ra ngoài đi dạo. Tôi không muốn đi cùng, muốn để chị có khoảng thời gian riêng một mình lắng lại với cảm xúc. Quan trọng là tôi không muốn nói bất cứ chuyện gì với chị ra ngoài dòng hồi ức. Tôi ở lại trong lều, nghe lại đoạn băng vừa ghi.
 Lúc trở vào, Lê Vân hỏi: “Em biết ở đây người ta câu được một loại cá rất to không, nặng đến năm chục ký”. Thế à, tôi kinh ngạc kêu lên. Thấy tôi ngố quá, Lê Vân cười phá ra: “À, loại cá các ông thèm của lạ thích câu ấy!”. Rồi chậm rãi nói tiếp: “Chị vừa nói chuyện với cậu bé phục vụ ở đây, nó bảo, sao mà người ta ác thế. Sáng nào nó cũng phải lội xuống hồ để vớt cá chết nổi lên trắng xóa một góc hồ. Nhìn cá chết xót ruột lắm. Người ta câu cá, không mang về ăn, lại thả xuống nước. Con nào khỏe thì sống, con nào yếu thì chết. Đâu phải con nào cũng tự lành được vết thương. Có con nuốt cái móc câu vào tận ruột, người ta lấy lưỡi câu ra cùng với ruột cá, thế mà lại vẫn ném chúng xuống nước. Làm sao chúng sống nổi”. Tôi bảo: “Hay nhỉ, một cậu bé, ngày nào cũng vớt xác cá mà vẫn còn có lòng thương xót bọn cá nhỉ? … Lê Vân trầm ngâm: “Câu cá lên để ăn thì là lẽ tự nhiên, chẳng sao cả, nhưng câu lên chỉ để vui thú rồi lại quăng nó xuống nước, cho chúng chết dần chết mòn đến thối rữa thì đúng là ác ôn chứ còn gì!!!”
Buổi chiều, câu chuyện của chúng tôi chủ yếu về những năm Lê Vân học trong trường múa, những kỷ niệm mà chị gọi là ‘uất hận’ ấy được chị kể ra với một thái độ giận dữ, dứt khoát. Bảy năm địa ngục ư? Tôi gặng hỏi, chị cố nhớ lại đi, chẳng lẽ không có một niềm vui nào? Không em ạ. Trong đầu chị lúc đó chỉ đọng lại một nỗi oán hận, sao người lớn lại ác với trẻ con thế. Ngay bây giờ, chị vẫn nghĩ, họ không cần phải ác với học sinh nội trú như thế. Chúng nó sinh ra là trẻ con học múa chứ có phải sinh ra để làm người lính đâu mà bắt có tác phong như lính. Về sau, trong một lần ghi âm khác, tôi nhắc lại chuyện ở trường nội trú, và rất mừng là Lê Vân đã nhớ lại được một kỷ niệm ngọt ngào về cô giáo giáo dạy múa hồi năm thứ tư của chị. Về những bông hoa tuyết đầu mùa.
Trong dòng hồi ức thời nhỏ, Lê Vân nhắc đến chuyện nửa đêm nghe bố mẹ cái nhau về nghi vấn Lê Khanh thực sự là con ai. Tôi bảo, em có nghe chuyện này, lâu lắm rồi, cũng không còn nhớ là ai nói. Lê Vân kinh ngạc thốt lên: “Thế à, lạ nhỉ, hóa ra ngoài xã hội họ cũng biết chuyện này cơ à. Chị tưởng chỉ mình chị biết thôi chứ. Có lẽ Khanh nó biết rồi cũng nên”. Tôi gật gù, em còn được nghe đồn, nhân vật ấy đi đâu cũng khoe ông ta mới là bố thật của chị Khanh cơ. Lê Vân lại ồ à kêu lên: ‘Thật à, sao lại có người vô duyên thế nhỉ”. Câu chuyện này còn được tôi và Lê Vân cân nhắc có nên đưa vào sách không. Lê Vân muốn bỏ đi nhưng tôi đã cương quyết thuyết phục chị giữ lại. Lê Vân ngại đụng chạm vào đời riêng của em gái. Đúng vậy, nhưng đây là chi tiết quan trọng thể hiện tình cảm chị em giữa Lê Khanh và Lê Vân. Lê Vân đã sốc, thức đến sáng, lo lắng cho cho Lê Khanh như thế nào, hẹn khi nào em lớn lên sẽ nói chuyện. Và đây chính là dịp để chị được nói ra. Chi tiết này, sau khi cuốn sách ra, trong cuộc họp gia đình, Lê Khanh đã tuyên bố với bố mẹ và chị gái rằng, chị đã biết thiên hạ đồn thổi từ lâu rồi nhưng chị là con ai thì chính chị phải biết và chị không quan tâm đến lời đồn ấy.
 Xẩm tối, Lê Vân chở tôi về đến tận nhà ở Nguyên Hồng rồi mới lại vòng về nhà chị ở Thụy Khuê. Chị có vẻ kiệt sức vì đường xa trời lạnh, nhưng có lẽ kiệt sức vì cảm xúc mạnh nhiều hơn. Nhìn theo chiếc xe Future của chị chìm lẫn vào bóng tối nhập nhoạng ánh đèn, tôi thấy ghét mình cay đắng. Tại sao tôi không nghĩ ra cách về nhà bằng xe ôm hay taxi cho Lê Vân đỡ được một đoạn đường!
Tối hôm đó, dù mệt mỏi, sau khi copy phần trò chuyện vào máy tính, tôi vẫn cố lê sang nhà Vân Hạnh, cô hàng xóm độc thân để trút ra những cảm xúc của ngày hôm ấy. Tôi bảo: “Em có tin là Lê Vân cả đời chỉ khát khao được bố mẹ gọi con ơi không? Em có tin là họ chỉ xưng mày tao với con cái không? Em có bao giờ nghe đến chuyện Lê Khanh không phải là con Trần Tiến không?” Vân Hạnh cười khì: “ Em chỉ nghe kể là ở nhà Lê Vân có một ổ chơi bạc thôi, chị có tin không?”
                                                              ***
 Hôm sau, y hẹn, tôi đến nhà chị thật sớm để được thưởng thức món bún riêu cua của bà già đầu ngõ chị Dần mua về. Lâu lắm rồi, có lẽ phải hai chục năm tôi mới lại được thưởng thức kiểu bún riêu cua thuần túy thế này. Giống hệt bún riêu ăn ở nhà quê, tuyệt không có vị mỳ chính hay là vị ngọt của xương như người thành phố sáng chế ra. Lê Vân tự tay pha cho tôi ly cà phê đen nóng, bảo: “Uống thử đi xem cà phê chị pha có gì đặc biệt không? Nếu thích, chị sẽ truyền bí quyết cho”. Ở Sài gòn, người ta uống cà phê bằng ống hút, ngọt như chè. Đá viên chiếm già nửa cốc. Ly đen nóng thơm thấu thân tâm trong mùa đông Hà nội của chị quả là rất đặc biệt. Sau này, chị Vân còn truyền cho tôi bí quyết nấu phở bò, bún thang, mỳ quảng nữa… mà chẳng bao giờ tôi thực hành.
Tại hồ câu cá, gió hun hút thổi muốn xô tung những lều cá mỏng manh xuống nước. Không khí khô lạnh đến nỗi môi tôi nứt toác. Chúng tôi không ngồi ở lều tre nữa mà chui vào nhà kính, gọi là nhà bát giác tọa lạc giữa hồ, cho đỡ gió. Xuyên qua màn kính trắng, tôi cố hóng nhìn xem có thấy xác cá nào nổi lên không. Chẳng hiểu sao cứ bị ám ảnh mãi bởi “một góc hồ trắng hếu lềnh phềnh xác cá”. Để làm gì chứ? Cái trò câu cá giải trí thời thượng của đám người thành phố thừa thời gian thiếu niềm vui! Không hề có thêm vị khách nào đến hồ cá ngoài hai chúng tôi. Có lẽ, vì là những ngày giáp Tết, thiên hạ còn bận mải bán mua lễ lạt, thời gian đâu mà đi câu thư giãn chăng? Vả lại, thời tiết lạnh lẽo thế này, họa có là điên thì mới lên hồ câu hóng gió…
         Cút rượu uống dở hôm qua giờ lấy ra chỉ để làm vì, khi câu chuyện đã vào mạch, chúng tôi quên bénh rượu. Lạc rang ỉu xìu vì chúng tôi mải trò chuyện không ăn. Hôm nay, tôi để mặc cho Lê Vân tự nói theo dòng hồi ức. Tôi tránh không xen vào mạch kể của chị. Những ngày tháng ‘hành xác’, như chị nói, ở nhà hát kịch Việt Nam hiện lên. Nghĩ cũng lạ, sao kỷ niệm của chị toàn những cay đắng thế! Tôi thật không tin vào tai mình, rõ ràng là Lê Vân không cảm thấy chút hạnh phúc nào với nghề múa balet, vậy mà tại sao chị vẫn thành công, vẫn trở thành diễn viên ngôi sao trong làng múa? Lê Vân trả lời thắc mắc của tôi như sau: “Ngày ấy nó thế em ạ. Đến bây giờ chị vẫn xet thấy là chị không có tài năng bẩm sinh gì ở cái nghề múa này cả. Vào trường múa là do bố mẹ bắt học. Phải học thì mới có cái ăn. Ra trường thì phải làm việc, vì không múa thì biết làm gì để sống! Cả xã hội như thế phải gồng người lên làm những điều mình không muốn để có lương, để có tiêu chuẩn, để có cái ăn cái mặc. Thế thôi. Yêu thích gì đâu, đam mê gì đâu. Chẳng có một lựa chọn nào khác em ạ. Nên dù có ghét múa cay đắng thì vẫn phải sống với nó. Và một khi đã làm nghề thì với lòng tự trọng, lĩnh tiền hàng tháng thì phải làm trọn phận sự của minh chứ không thể dối trá. Thế là thành tài đấy. Thế nên, khi được chuyển sang múa dân tộc, với chị cứ như là được đi chơi...” Rồi Lê Vân kể về nỗi cô đơn những ngày đầu mới chuyển về nhà hát ca múa dân tộc. Về những lần ngồi trên ô tô phải nghe những lời nói bóng gió mỉa mai ghen tị của đồng nghiệp chỉ đích danh vào mình mà cứ phải nín lặng chịu đựng. Về nỗi cay đắng khi phải đi múa hát phục vụ tiệc tùng cho các phái đoàn khách khứa quan chức cao cấp trong vai trò của một con hát. Chị thấy rõ nghệ thuật không phải thế. Nghệ thuật là những gì khác cơ. “Em biết không”, Lê Vân nói như dằn dỗi, pha chút gì thật nghịch ngợm, trẻ thơ, “có lần phải chụp ảnh chung với những nhân vật VIP nào đó mà chị không thích, người ta thì đem treo giữa nhà để khoe còn chị thì cắt luôn cái đầu VIP đó đi cho bõ ghét”.
         Tôi ngồi lặng đi không biết nói gì. Chỉ đến khi cậu bé phục vụ bước vào chúng tôi mới hay bốn tiếng đồng hồ của buổi sáng đã trôi vèo. Bữa trưa là hai cái bánh mỳ kẹp chả. Bánh mỳ để lâu nên cứng đanh lại. Chắc họ mua từ sáng sớm. Tôi ái ngại nhìn Lê Vân gặm bánh mỳ khô, cảm phục thái độ sống thích nghi trong mọi hoàn cảnh của chị. Từng biết thế nào là đói, là kham khổ nên tôi thấy chị thật gần gũi và dễ chịu. Chẳng chờ tôi phải an ủi, chính Lê Vân lại cất lời an ủi tôi: “ Em ạ, ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, người ta chuẩn bị được cho mình thế này cũng là tốt rồi”.
            Buổi chiều, Lê Vân nhớ gì kể nấy. Chị nói sơ qua với tôi về ba người đàn ông trong cuộc đời chị mà chị gọi là ba người tình. Câu chuyện khá sơ sài, qua loa. Chị cũng kể với tôi về một mối tình học trò, kiểu thấy bạn bè yêu đương thì cũng đua đòi chứ chưa có cảm xúc thật của tình yêu. “Không quan trọng em ạ, chuyện này chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc đời của chị”. Có lẽ vì lý do đó, tôi đã không nhắc đến nó trong cuốn sách. Sau này nhiều người thắc mắc đâu mới là mối tình đẩu của Lê Vân. Thậm chí họ còn nói chị cố tình che dấu mối tình kéo dài bảy năm sắp cưới này. Và người này cũng là một diễn viên múa đã chết. Tôi nghĩ, Lê Vân không có gì sai khi không nhắc đến anh ta. Nếu câu chuyện về anh có đúng thật như thế đi nữa, việc kể lại nó hay không đó là quyền của chị. Chị có những lý do riêng cho việc không tiết lộ chi tiết về mối quan hệ đó và chúng ta hãy bằng lòng với điều đó. Thực ra, tôi cũng đã viết đến chuyện đó chút xíu tỏng bản thảo đầu tiên nhưng rồi lại biên tập đi, chính tôi cũng thấy nó không cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Nếu coi đó là một điểm khiếm khuyết tất yếu của mọi cuốn tự truyện, xét cho cùng, nó đâu phải là một khiếm khuyết quá quan trọng làm giảm độ chân thực của cuốn sách LVYVS.
         Hai chị em rời hồ câu cá giải trí cũng là lúc trời sậm tối. Lê Vân chở tôi về đến ngõ nhà chị rồi tôi bắt taxi về. Mệt mỏi kiệt sức. Ngồi trong taxi, tôi nhắm mắt, thiếp đi với cảm giác gờn gợn lạ lùng. Như thể ngồi tròng trành trên thuyền, xung quanh là nước nổi bập bềnh xác cá. Những con cá nuốt lưỡi câu vào đến tận trong ruột. Những con cá được phóng thích xuống hồ chết từ từ. Tôi mường tượng cảnh mình nuốt một lưỡi câu vào bụng và cảm thấy đau nhói quặn thắt. Và tôi được câu lên. Một con cá hơn năm chục ký. Những tiếng cười ha hả sung sướng của đám người đi câu cần rượu và gái. Nhưng tôi là một con cá già chẳng ai muốn. Đám người đi câu móc ruột tôi ra lấy lại lưỡi câu và quẳng tôi xuống nước. Sáng hôm sau, tôi được cậu bé vớt lên. Tôi đang hấp hối nhưng vẫn kịp nhận thấy gương mặt cậu bé nhà quê sắt lại xót xa cho một cái chết oan uổng. Có lẽ cậu mới làm việc ở hồ cá, chưa kịp trở thành người vô cảm.
                                                                    ***
          Sau hai ngày làm việc, Lê Vân đột xuất bận việc gia đình. Bởi đã dự định làm việc ít nhất từ một tuần đến mười ngày, tôi hơi hẫng. Tuy nhiên, tình huống này cũng đã nằm trong sự tính. Công việc có thể dừng lại bất cứ lúc nào. Đây là một công việc đòi hỏi tinh thần tự nguyện. Nếu hai bên không duy duy trì được cảm hứng cho nhau, dễ dẫn đến chán nản và bỏ cuộc. Có thể Lê Vân lại ‘nghĩ lại’ không muốn làm nữa. Chị không thể bộc lộ hơn nữa? Gạt đi những ý nghĩ tiêu cực kiểu đó, tôi trở về Sài gòn.
              Ngồi trên máy bay trở về nhà, nhìn đám mây bồng bềnh trắng toát hư vô bên dưới, tôi nhớ lại gương mặt xinh đẹp làn da mịn màng của Lê Vân, nhớ lại từng cử chỉ duyên dáng quyến rũ, từng lời ăn tiếng nói ý nhị, từ tốn của người đàn bà từng trải mà vẫn không bị mất đi nét hồn nhiên. Nghề múa giúp chị biết cách giữ gì vóc dáng và nhan sắc. Đặc biệt, Lê Vân là người có khiếu khôi hài dễ thương, cái chỉ có được ở những người đàn bà thông minh, tinh tế và sâu sắc. Sẽ không thể tìm thấy một mảy may “màu mè riêu cua” nào ở chị. Dù đã bước sang tuổi năm mươi, ở người đàn bà này vẫn toát lên một vẻ quyến rũ đặc biệt. Sự quyến rũ tỏa ra từ tâm hồn lương thiện và trí tuệ ham hiểu biết của một người ý thức được giá trị của mình. Lê Vân dần trở nên gần gũi với tôi như đã quen biết từ lâu. Tôi không hề nhận thấy một sự che đậy, vòng vo, giả dối nào trong câu chuyện chị kể. Sự thẳng tính của chị, cái mà chị vẫn gọi là dương nữ, nam tính, đã trùng khớp một cách tự nhiên với tính cách cũng trực tính thậm chí hơi vụng của tôi. Tôi thực sự thấy dễ chịu thoải mái khi trò chuyện với chị lắng nghe chị và bộc lộ những chuyện khá thầm kín của mình với chị. Chúng tôi đã ‘thôi miên’ nhau trong một nhu cầu cần chia sẻ, lắng nghe nỗi lòng thầm kín của nhau. Tuy nhiên, cấp độ “thôi miên” này vẫn còn nhẹ, mới chỉ đưa đối tượng vào một cơn say cơn mê chập chờn mà vẫn biết mình đang say đang mê đang nói. Vẫn có lý trí kiểm soát. Cơn “thôi miên” thực sự sẽ đến ở lần phỏng vấn trò chuyện tiếp theo, sẽ được nói đến trong phần sau của cuốn sách này. Khi mà Lê Vân ý thức được việc chị đang làm, việc chị cần phải làm để giải thoát cho chính tâm hồn mình. Lúc đó, thật sự chị không cần kiểm soát mình nữa. Chị thực sự được tự do bộc bạch, để mặc cho mình trôi theo dòng kỷ niệm ào ạt và không gì gò bó ngăn giữ nổi.

Comments


bottom of page