top of page

TÔI MUỐN LÀM ĐÀN BÀ

(Cấm đàn ông dưới 18 trên 80, hihi)
           Vào lúc tôi đang bí cách kết nối từng chương cuộc đời Lê Vân theo một mạch truyện sáng tỏ và hấp dẫn thì ở thủ đô Jakarta của Indonexia, chồng tôi mê man sốt, nằm cả ngày cô đơn trên giường khách sạn. Anh chỉ còn đủ sức gọi điện nói, em cố gắng bay sang đây càng nhanh càng tốt để đưa anh vào bệnh viện.
           Trong đám hành lý đóng gói vội vàng của tôi có cái máy tính xách tay và toàn bộ tư liệu cho bản thảo còn đang ở dạng thô, hoang mang, đang dở. Chưa đầy 12 tiếng sau, tôi đã có mặt. Anh gục vào tôi, rũ rượi, tơi tả. Cơn sốt, dấu hiệu báo động tình trạng làm việc căng thẳng quá sức, quật ngã anh đúng lúc công việc bề bộn. “Indonexia là mảnh đất dữ con ạ". Lời ông già bán phở thân thiện gần nhà, tưởng như câu chuyện làm quà, hóa ra thật.
               Anh bị giữ lại nằm viện. Sốt li bì, ngủ triền miên, với một mớ dây dợ xung quanh. Tôi chuyển vào nằm viện cùng anh, mang theo cuốn sách “Từ thuốc tới thiền" của OSHO. Ngày đầu chăm chồng, tôi chỉ đọc cho hết cuốn sách đó. Tôi thích nó vì nhiều lẽ. Cuốn sách gợi cho tôi cái ý tưởng viết lời đề từ cho mỗi chương chứ không đặt tên chương. Lời đề từ sẽ in nghiêng, nho nhỏ, như một gợi mở xa xôi vượt ra ngoài nội dung câu chuyện. Người đọc tinh ý sẽ không chỉ đọc câu chuyện mà đọc được lớp ý nghĩa sâu hơn, được lưu ý bởi lời đề từ đầy ẩn ý, và được khái quát nhấn mạnh hơn trong đoạn kết khép lại từng chương.
     Suốt quá trình viết, đây là giai đoạn tôi cảm thấy niềm hưng phấn tràn trề nhất. Say sưa đến nỗi một tuần trôi qua lúc nào không biết. Một tuần không nhìn thấy ánh mặt trời. Một tuần chỉ cắm mặt vào máy tính. Một tuần chỉ quanh quẩn trong căn phòng bệnh viện.
           Chồng tôi bị dính một kiểu cúm gì đó, do một loại muỗi gì đó đốt, mà ông bác sĩ có cái tên khó nhớ gì đó không thể kết luận nó là cúm gì. Tuy nhiên cứ phải tiếp nước hàng ngày. Anh yếu đến mức đi vệ sinh phải có người dìu không sẽ ngã. Người lằng nhằng dây dợ. Tôi ngồi viết, thỉnh thoảng lại ngó vào cái bình tiếp nước, để biết chắc nó vẫn nhỏ giọt. Tôi ngủ ở cái giường dành cho người nhà. Tôi ăn chung suất cơm bệnh viện của chồng, bữa nào cũng khoai tây không nghiền thì hấp. Dù phát ngán, phát sợ món khoai tây nghiền, tôi vẫn không có cảm giác cần ra khỏi phòng. Để xuống nhà ăn bệnh viện mua thức ăn khác, hoặc ra siêu thị. Thậm chí đi dạo hay thở hít khí trời, cũng không. Chồng mê man sốt, tôi mê man một cơn sốt khác. Cơn sốt sáng tạo. Nó cuốn tôi đi. Tôi chẳng muốn bỏ phí một tí thời gian nào.
           Phục vụ chồng trong bệnh viện dài ngày là cơ hội để tôi ngộ ra cái hạnh phúc trong nghĩa vụ của người vợ. Tôi từng điên khùng ao ước, có lúc nào đó, anh ốm liệt giường, để tôi được chăm sóc anh, được trải nghiệm tình yêu người vợ, được cho anh thấy tôi yêu thương anh nhiều thế nào. Thì nay, tôi đang được chăm anh đây, được nâng giấc cho anh như chăm con, được làm chỗ dựa cho một người đàn ông ngã ngựa, sức khỏe suy kiệt. Chăm chồng ốm mà tôi tràn trề hạnh phúc. Hạnh phúc của người biết mình đang có ích cho người khác. Đang được cần đến. Hạnh phúc được làm vợ, làm đàn bà. Suy cho cùng Lê Vân cũng chỉ muốn được là vợ, là đàn bà, được chăm sóc chồng như tôi thế này đây. Và cái ý tưởng "Tôi muốn làm đàn bà" lóe lên trong đầu như tia sáng rỡ ràng rọi vào đống bản thảo còn rối bời. Đúng rồi, tôi muốn làm đàn bà sẽ là một đường dây dẫn dắt xuyên suốt câu chuyện. Vậy là tôi đã chốt được chương đầu. Mở đầu Lê Vân tự hỏi, “Vân ơi Vân là ai”, và ở chương cuối, chị đã tìm ra câu trả lời, “tôi là tôi, là đàn bà”.
          Là đàn bà, không chỉ có ý nghĩa về mặt giới tính, mà còn có nhiều tầng ý nghĩa khác. Là đàn bà, là hoa là trái cho đời. Là đàn bà, là cơm ngon canh ngọt, là lửa ấm là nhà sạch. Là đàn bà, là thơm tho ngọt ngào là dịu dàng thương mến. Là đàn bà, là được yêu thương tôn trọng, được nâng niu che chở. Được thụ hưởng và thực hiện đúng thiên chức của người đàn bà, của con người tự do. Bất chấp thể chế, bất chấp thời cuộc, bất chấp tuổi tác. Cái ý nghĩa “tôi là tôi, là đàn bà” ở một mức độ cao nhất còn là khát vọng hướng đến sự tuyệt mỹ của “tính nữ vĩnh hằng”. Ở đâu có người đàn bà hạnh phúc thì ở đó có tình yêu, hòa bình và tự do. Đó là những điều tôi muốn chuyển tải trong cuốn sách. Vâng, tôi không được chọn cha mẹ, chọn giới tính khi sinh ra, nhưng tôi có quyền được sống đúng là tôi và đúng với giới tính mà tôi được trao cho. Thậm chí, nếu không bằng lòng với giới tính của mình, tôi có quyền thay đổi nó. Tôi nhỏ nhoi đơn độc, tôi không thể và cũng không có tham vọng cải tạo thế giới này, chí ít tôi phải có quyền cải tạo lại chính tôi. Và như thế, tôi đã cải tạo một phần bé nhỏ của thế giới. Cái thế giới mà thân xác tôi và linh hồn tôi thuộc về. Ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc như tuyên ngôn về quyền con người chỉ rõ, và ai cũng có quyền được hưởng tình yêu. Tình yêu không phải là thứ có sẵn, tình yêu là thứ, trong những hoàn cảnh sống còn, ta phải đấu tranh và phải giành giật, mới có được. Không phải đấu tranh với người mà là đấu tranh với chính mình. Giành giật với chính mình. Tôi sẽ đấu tranh để giành hạnh phúc cho mình, theo kiểu của tôi. Để yêu và được yêu. Thứ tình yêu không bị đèo theo khái niệm phản bội. Người ta chỉ “phản bội” được người yêu khi cái tình cảm luyến ái được gọi là tình yêu ấy đã chết. Lê Vân luôn nhắc đi nhắc lại, "tôi muốn làm người đàn bà bình thường, hưởng niềm vui làm vợ làm mẹ'. Vâng, thì đây, cả quyển sách này sẽ chỉ nói lên cái khao khát đó. Khao khát cháy bỏng được làm một người đàn bà sống đúng là mình. Người đàn bà đi kiếm tìm hạnh phúc gia đình, hạnh phúc cá nhân, tự do cá nhân, trong thời đại của chủ nghĩa cộng sản, cái chủ nghĩa cho mình quyền ban phát cho con người từ niềm vui nhỏ bé nhất về vật chất cho đến quyền điều khiển kiểm soát tư tưởng tinh thần. Nếu chuyển tải được một phần những điều này, tôi biết rằng, tôi sẽ có một cuốn sách không chỉ đọc hấp dẫn mà còn có những tác động xã hội nhất định. Đúng như trình bày của tôi với chị Vân về ý định làm sách, tại buổi tiếp xúc đầu tiên: “Em không có ý định viết sách đời tư người nổi tiếng để câu khách kiểu rẻ tiền. Em muốn vẽ nên một bức tranh xã hội thật chúng ta đang sống, dựa trên câu chuyện thật của đời chị”.
       Bởi ý tưởng sáng rõ như thế từ đầu, nên tôi đã quá say sưa cẩn thận viết phần sự nghiệp của Lê Vân của cha mẹ chị, mà sao nhãng phần tình ái. Nhiều người đọc bảo thích phần Lê Vân Sống hơn là phần Lê Vân Yêu, mặc dù tôi không hề cố ý cấu tứ cuốn sách thành hai phần yêu và sống. Thực ra là, trong sống có yêu trong yêu có sống. Tuy nhiên, theo cách phân chia của độc giả, thành thực mà nói, tôi không hài lòng với phần viết về ba người tình. Nhiều chỗ còn dài dòng lặp lại. Trong thâm tâm, tôi muốn khai thác chị Vân nhiều hơn ở phần kỹ năng múa hay là đóng phim. Tiếc là, cả múa lẫn điện ảnh, chị đều chưa nói sâu hơn.
       Suốt quá trình phỏng vấn, tôi không một lần hỏi tên hai người tình đầu của chị. Chị cũng không hề muốn tiết lộ. Vậy tôi phải gọi họ là gì đây? Nhân vật không tên ư? Để cho bạn đọc tiện theo dõi, nhất định phải đặt được cho họ một cái tên chứ nhỉ? Tôi không nhớ cái tên Người Ấy đã đến với tôi như thế nào. Người ấy chứ không phải là anh ấy, ông ấy, lão ấy, gã ấy, hay thằng ấy. Chỉ biết, tôi rất vui mừng khi tìm ra được danh xưng Người Ấy để đặt tên cho người đàn ông trong bóng tối. Và danh xưng chàng Lãng Tử dành cho người đàn ông thứ hai. Người ấy nghe vừa kính trọng vừa xa cách. Chàng Lãng Tử nghe vừa dân giã vừa phù hợp với tính cách của nhân vật này. Đặt được tên cho họ, tôi cảm thấy tự tin hơn, hình dung tính cách hành vi con người của họ rõ hơn. Lê Vân không muốn chân dung các người tình của chị bị xấu đi, bị hiểu lầm...
        Tôi không có nhiều cảm tình với nhân vật người đàn ông thứ ba của chị Vân như với Người Ấy và chàng Lãng Tử. Không hiểu sao lại thế. Dường như anh ta được tất cả. Được tình yêu của một người đàn bà đẹp tài sắc. Được trở thành cha những đứa con của chị. Nhưng cho đến khi khép lại cuốn sách, anh vẫn chưa chính thức là chồng Lê Vân. Trong sách, tôi đã cố tình không để cho Lê Vân có một cơ hội nào gọi anh ta là chồng. Tôi không thích thế. Tôi thấy rất rõ một sự thật, cho dù Lê Vân nghĩ rằng chị đang hạnh phúc, chị đã đạt được mơ ước làm vợ, làm mẹ, làm đàn bà, nhưng thực tế chưa phải như vậy. Anh ta vẫn còn nợ chị một lời đính hôn, một đám cưới, và một sự chính danh mà bất cứ người đàn bà nào cũng mong muốn có với người đàn ông họ yêu thương.
         Ra viện, tôi cùng chồng đi thăm đền thờ phật bằng đá lớn nhất thế giới Borobubur, nơi Abraham và Lê Vân đến đó chờ mặt trời lên, bắt đầu mối tình lớn của đời chị. Tôi muốn đến tận nơi để trải nghiệm. Để đi đoạn đường dài trong lúc tờ mờ đêm, để nếm cảm giác say xe, mệt đứ đừ, cứ gối đầu bừa lên đùi người bên cạnh mà ngủ, của Lê Vân. Trong sách sẽ có đoạn buổi sớm ở đó. Buổi tham quan ngôi đền thờ Phật khổng lồ không chỉ giúp tôi nhập thân vào Lê Vân của những ngày đầu tinh khôi trong tình yêu với Abraham, mà còn cho tôi cơ hội khám phá những cảm xúc bí ẩn của chính mình, đánh thức những khát vọng thẳm sâu bất ngờ. Tôi lờ mờ cảm được vì sao loài người cần tôn giáo. Sau này, khi đến thăm mặt trời mọc trên Angkor Watt, bất ngờ đến mức sợ hãi trước sự kỳ vĩ của những bức tượng đá khổng lồ, nhưng trái tim tôi cứ bồn chồn nhớ về buổi sáng tinh khôi ở khu đền Borobudur này. Nhớ cái rùng mình run rẩy thân châu khi tình cờ chạm môi vào làn da đá ram ráp sần sùi trong lúc cố với tay chạm vào đầu bức tượng Phật đặt bên trong những cái lồng bằng đá. Đó là khoảnh khắc thăng hoa của nhung nhớ. Một nỗi nhớ lạ lùng, giống như nhớ người tình cũ, nhớ nụ hôn đầu. Vừa mong mà vừa sợ gặp lại. Sợ không còn cảm giác thiêng liêng của lần đầu, sợ nhàm, sợ chán. Nhưng vẫn hi vọng tội lỗi mơ hồ...
           Cuộc sống luôn chứa đựng những tình cờ bất ngờ thú vị, mà như có sự sắp đặt của một bàn tay bí mật. Nhờ chăm chồng ốm, tôi có được khoảng thời gian viết sung sức nhất. Tôi nghĩ ra được những lời đề từ quan trọng của từng chương. Những lời đề từ mà sau này, có người giả vờ rụt rè hỏi thẳng tôi, có phải đó là do nhà văn Tạ Duy Anh viết hộ không? Hân hạnh quá! Văn của mình được ví với văn của Lão Tạ cơ đấy! Nhờ đến Indonexia, tôi có cơ hội sống trong bối cảnh Lê Vân gặp người đàn ông thứ ba. Vâng, nhờ những ngày chăm chồng, tôi biết rõ sẽ phải cấu trúc cuốn sách theo cách nào để viết cuốn sách theo mạch tư tưởng thống nhất: Tôi muốn tự do sống là tôi, yêu là tôi, sáng tạo nghệ thuật là tôi. Tôi muốn xé bỏ lớp son phấn mặt nạ nổi tiếng hạnh phúc. Tôi muốn được là tôi. TÔI MUỐN LÀM ĐÀN BÀ.
(Trích SÁCH CẤM, của Bùi Mai Hạnh, Warrnambool 2010)
PS: Đến giờ, đọc lại những dòng trên, những ghi chép của 10 năm trước. Tiếc quá! Tôi thích cái tên TÔI MUỐN LÀM ĐÀN BÀ đặt cho cuốn sách này mà không cố gắng bảo vệ được. Tôi đã chịu thua. Chỉ vì, cái tên kia sẽ ăn khách hơn! Đau.


Ảnh: đền thờ Phật lớn nhất thế giới, bằng đá, xây từ TK thứ 3. Rộng gần 30 nghìn mét vuông.



Comments


bottom of page